Tản mạn về Mai

TẢN MẠN VỀ MAI

Hay "Ủa đang nói về mai nào vậy?"
Mai là một loài hoa thường gặp trong thơ nhạc, hội họa, điêu khắc cổ điển. Mai được mệnh danh là loài cao quý, hoa của quân tử, vừa gần gũi với thẫm mĩ bác học vừa được ưa chuộng bởi thị hiếu bình dân. Nhưng nói tới mai thì nhiều loại mai quá, không biết đường đâu mà lần. Cũng tại tiếng Việt mình làm trùng tên nhiều quá. Vậy mai đây là mai nào?

Nhóm 1 - Mai Nam Kỳ

1) Xuất phát từ góc nhìn của người miền Nam mà giải quyết những hiểu lầm: cây hoàng mai.

Hễ nói tới mai thì chúng ta nghĩ ngay tới loài mai vàng nở dịp Tết, từ miền Trường Sơn đổ vào Nam. Cây mai vàng họ Ochnaceae, bộ Sơ ri (Malpighiales) nở mai màu vàng, cánh dày có gân, muốn mai nở đều thì lặt hết lá, lại có giống mai Tứ quý nở nhiều lần trong năm.
Tuy nhiên, đây không phải là loài hoa trong điển tích, cũng không phải hoa mai xuất hiện trên các trang trí cổ điển trong nhà cửa như mai điểu, mai hóa long, mai lan cúc trúc. Lúc này, những đồ án trang trí vẫn là mượn nguyên bản từ điêu khắc miền Trung, bài bản, ước lệ nên không có những thực vật bản địa Nam Kỳ. Mãi sau này mới có chuột leo dây bí, cua, cá, tôm, rong cỏ, sẽ đề cập sau.
Cây này danh pháp khoa học là Ochna. Tiếng Anh Mỹ có gọi là Mickey Mouse plant do hột đen giống mắt chuột Mickey. Người Trung Quốc gọi là Kim liên mộc 金蓮木 - cây sen vàng.*

2) Nam mai/ bạch mai

Là loài cây cận họ với loài mù u, lá to bản, láng mượt, hoa trắng có mùi thơm. Loài cây là cảm hứng cho nhóm Bạch mai Thi xã tập nhiều nhiều văn sĩ nổi tiếng của Nam Kỳ thế kỷ trước. Tại Gia Định xưa có di tích gò Cây Mai, hay Mai Khâu 梅丘 trong tiếng Hán, nay đã trở thành huyền thoại qua những tuyệt tác thi ca của Trịnh Hoài Đức trong Cấn Trai Thi Tập.

3) Mai xiêm/ Mai chiếu thủy

Cây thuộc họ trúc đào (Apocynaceae). Hoa trắng, thơm ngào ngạt, nở về đêm, hoa luôn hướng xuống đất nên gọi là chiếu thủy, chiếu thổ. Vì cây lá nhỏ dễ tạo hình dáng đẹp nên thường được dùng trong nghệ thuật bonsai hay làm bờ rào xanh mát, đặc trưng cho cảnh quan vườn Nam Kỳ.

Nhóm 2 - Mai ôn đới

Đây mới là loài mai trong điển tích đây!

1) Xưa thiền sư Mãn Giác làm bài Cáo tật thị chúng có câu:

"Đình tiền tạc dạ nhất chi mai 庭前昨夜一枝梅"
(Đêm qua sân trước một cành mai).
Lại có câu đối (được cho là của Cao Bá Quát, còn tranh luận):
" Thập tải giao luân cầu cổ kiếm 十 載 輪 交 求 古 劍,
Nhất sinh đê thủ bái mai hoa 一 生 低 首 拜 梅 花"
(Mười năm lặn lội tìm gươm quý, cả đời chỉ bái lạy trước hoa mai)
Trong các câu thơ Hán xưa, chữ mai đều viết là 梅, mà trong tiếng Nôm mình gọi là mơ (Prunus). Hoa sắc trắng tới phớt hồng. Đây là hoa mai xuất hiện trong thơ văn xưa, cũng trong hội họa và điêu khắc cổ điển. Các mai điểu, mai hóa long, mai lan cúc trúc đều là 梅 này cả. Mai với mơ nhầm lẫn cũng tại cái sự nhứt đầu của Hán Nôm mà ra.
Xưa cụ Nguyễn Du ta lại có một câu thơ tuyệt ý bằng chữ Nôm đề trên đồ gốm ký kiểu:
"Nghêu ngao vui thú sơn hà,
Mai là bạn cũ, hạc là người quen".
Cây này thuộc chi Prunus, tiếng Anh vẫn thường dịch là apricot. Sư ông Làng Mai Thích Nhất Hạnh lại lấy tên tiếng Anh là Plum Village, âu cũng là những loài khác nhau trong cùng một chi Prunus mà thôi.

2) Đạp tuyết tầm mai

Đây là một điển tích tuyệt đẹp, vị nghệ thuật, duy mỹ tuyệt vời. Nguyên ông Khổng Minh thời Tam Quốc có câu thơ:
"Kỵ lô quá tiểu kiều 騎驢過小橋
Độc thám mai hoa sấu 独探 梅花瘦"
(Cưỡi lừa qua cầu nhỏ, chỉ để tìm cành mai gầy).
Đây là loại mai xứ lạnh, màu đỏ, nở bung trong tuyết lạnh cuối đông đầu xuân, hàn mai xuân tín tảo 梅春信早 (cành mai lạnh báo xuân về sớm). Trong cái lạnh giá của ngày đông tuyết phủ, con người lãng mạn băng đường xa chỉ để ngắm cái đẹp tuyệt thế của nhành mai thanh khiết cao cả. Đẹp biết là bao!
-------------
*Phạm Đình Lân, Thế giới Thảo mộc Từ điển
-------------------------------------------------------------------
This is a complicated post on different floral spiecies which are all called mai in Vietnamese. Since there are a lot of details concerning history and culture of East Asia that do not always make sense to those who come from outside of the cultures, we don't translate everything but just summarize the main ideas:
The apricot/ mai motif is very common in classical wood carving art of Vietnam. This mai is in Prunus family, grow in temperate and sub-temperate climate. The ornaments in South Vietnam actually originated from Central Vietnam art, and Prunus can not be found in South Vietnam.
Instead, we call spiecies from Ochna family mai in South Vietnam. They bloom during Lunar New Year with yellow flowers and has long been an icon for Southern new year. They are not used in classical decoration. However, later, native flora and fauna became subjects for carving (but not mai), which we will write about in a detailed post.
For other mai, please click on the photos for more information.
Nguồn: tanmankientruc
Ảnh: Hiếu Y, Nghia Nguyen, Wikipedia
~Hiếu Y
Không có mô tả ảnh.
Chi tiết mai điểu trên cánh cửa ở Vĩnh Long. Mai 梅 ở đây là cho Prunus.

Apricot and Bird ornament in Vinh Long, from the Prunus genus.

Ảnh: Hiếu Y
Trong hình ảnh có thể có: thực vật, cây, ngoài trời và thiên nhiên
Mai chiếu thủy/ mai xiêm (Wrightia religiosa). Vì hoa trổ ngược xuống nên gọi tên chiếu thủy/ chiếu thổ. Lá đẹp, nhỏ nên dễ tạo hình bonsai, bờ rào.

Wrightia religiosa. Because of its small leaf, the plant is ideal for bonsai art and is also grown as hedges. The use of Wrightia religiosa in landscape art is typical of South Vietnam.

Ảnh: Wikipedia
Trong hình ảnh có thể có: bầu trời, cây, thực vật và ngoài trời
Cây bạch mai ở Xương Đức Cung xứ Đại Hàn.
Apricot blossoms in Changdeokgung - South Korea. Spieces from Prunus genus appear in classical wood carving and painting, also poetry and literature.

Ảnh: Nick
Trong hình ảnh có thể có: thực vật, hoa, bầu trời, ngoài trời và thiên nhiên
Cây mai vàng Trung Kỳ, Nam Kỳ, chi Ochna.

The Souther yello mai from Ochna genus, which is the icon for New Year in Central and South Vietnam.

Ảnh: Hiếu Y

Đăng nhận xét

0 Nhận xét