GÒ CÔNG - NHỮNG GIÁ TRỊ KHÔNG BAO GIỜ CŨ

NHỮNG GIÁ TRỊ KHÔNG BAO GIỜ CŨ

Thị xã Gò Công thuộc Tiền Giang là một thành phố nhỏ điển hình (hơn 100.000 dân) của Miền Tây Nam Bộ. Một thành phố với qui hoạch ô bàn cờ vuông vức gọn gàng, với những dãy phố nhỏ sáng sủa, xinh xắn, sạch sẽ và thanh bình, với khu trung tâm khá nhộn nhịp và khu “ngoại ô” yên tĩnh chìm trong vườn cây xanh mướt.
Khác với vẻ ngoài hiền hòa, Gò Công có một vị trí khá đặc biệt, một vùng đất có tiếng là “địa linh nhân kiệt” trong lịch sử Nam Bộ. Trước hết, Gò Công là một vùng đất cũ của Nam Bộ, từ 1756 Gò Công đã chính thức thành một bộ phận của lãnh thổ Đàng Trong với tên cũ là Lôi Lạp.
Nhưng chỉ từ năm 1788, Gò Công mới trở thành tên goị chính thức của vùng đất này và đi vào chính sử triều Nguyễn. Đó chính là năm mà Võ Tánh sau khi dựng cờ “Khổng Tước Nguyên Võ” ở Gò Công (gò Khổng Tước) đã đưa đạo quân “Kiến Hòa” hơn 10.000 người về hội quân với Nguyễn Ánh ở Nước Xoáy (Sa Đéc), tạo bước ngoặt lịch sử trong cuộc chiến Tây Sơn-Nhà Nguyễn.
Vào thời Pháp thuộc, thị xã Gò Công từng là tỉnh lỵ của tỉnh Gò Công cũ trước năm 1956 và trong giai đoạn 1964-1975 dưới thời Việt Nam Cộng hòa. Thời đó Gò Công cũng là tỉnh nhỏ nhất của Việt Nam với diện tích chỉ khoảng 570 km2.
Tuy là một tỉnh nhỏ nhưng Gò Công có khá nhiều cái nhất. Gò Công là căn cứ và nơi tuẫn tiết của Trương Định, người anh hùng chống Pháp lừng danh nhất Nam Kỳ lục tỉnh. Và cũng là quê hương của nhà văn Hồ Biểu Chánh, một trong những tác gia mà tác phẩm được dựng phim và tái bản nhiều nhất Việt Nam hiện nay.
Thị xã Gò Công còn nhiều cái nhất thú vị khác như Dinh Tỉnh trưởng (xây 1885) to nhất Nam Bộ và có hơn 200 ngôi nhà cổ 100-150 năm các loại, bằng 70% số nhà cổ của cả tỉnh Tiền Giang một trong những tỉnh nhiều nhà cổ nhất Nam Bộ. Đó cũng là lý do tại sao thị xã Gò Công đã từng mang tên là Làng Thành phố (Village de la Ville) từ 1885-1956.
Nhưng điều làm cho Gò Công được nhiều người Việt Nam biết đến nhất, có lẽ vì Gò Công là quê hương của bà Từ Dũ (mẹ vua Tự Đức) và bà Nam Phương (vợ vua Bảo Đại), hai bà Hoàng Hậu nổi tiếng Việt Nam về tài sắc và đức độ.
Còn ngày nay ấn tượng lớn nhất với tôi khi về Gò Công, là nhịp sống chậm rãi yên ả của những người Gò Công bình dị cởi mở, hiền hòa và thân thiện. Là đoàn nữ sinh áo dài trắng tinh khôi vui tươi ríu rít trên đường phố, hệt như Hà Nội và Sài Gòn thời xưa cũ đã lâu lắm.
Phải chăng nhờ một lịch sử phong phú mà hiện nay Gò Công còn lại khá nhiều di tích kiến trúc lịch sử nổi tiếng Nam Bộ như Lăng Trương Định, Lăng Hoàng Gia của Quốc Công Phạm Đăng Hưng, Nhà cổ Đốc phủ Hải, đền Võ Tánh, Đình Trung, Dinh Tỉnh trưởng, Hội quán của 5 bang hội người Hoa …
Tuy nhiên, khi đến bất cứ thành phố nào tôi luôn cố gắng đi tìm nơi cất giữ “hồn cốt” của người dân địa phương. Và ở Gò Công tôi đã tìm được Văn Thánh Miếu (文 聖 廟).

Cách đây mấy tháng, trong khi đi dạo Gò Công, tôi phát hiện ra một ngôi nhà hai tầng có kiến trúc nửa Pháp và nửa Việt Nam kiều đền chùa đầu thế kỷ 20, tọa lạc trong một khuôn viên gần 1000 m2 ngay ở trung tâm thị xã. Ở trên cửa ra vào có hàng chữ Văn Thánh Miếu và trên cột bên phải là biển hiệu “Hội cựu Giáo chức Gò Công”. Một sự kết hợp kỳ thú, thể hiện sự tôn trọng và tiếp nối truyền thống đặc biệt mà tôi chưa thấy ở nơi nào khác. Kể cả ở những nơi người ta chi rất nhiều tiền để trùng tu (xây dựng) Văn Miếu.
Vừa qua trong chuyến về Gò Công, tôi may mắn được dự buổi sinh hoạt đầu tuần thường kỳ của Hội cựu Giáo chức Gò Công”. Được sự hướng dẫn của các bậc tôn trưởng trong hội, tôi đã lên tầng hai Văn Thánh Miếu viếng và thắp hương cho các bậc “vạn thế sư biểu” Khổng Nho, các bậc tiên hiền, các thầy cô giáo đã quá vãng của ngành giáo dục Gò Công.
Trên diện tích chừng 40 m2 tầng hai có ba bàn thờ trung tâm. Ở giữa là bàn thờ có bài vị Đức Khổng Tử “Vạn thế sư biểu” với hai câu liễn:
地 沃 先 生 頻 種 徳 Địa ốc tiên sinh tần chủng đức (Đất tốt thầy chăm trồng cây đức)
河 清 門 弟 佩 思 源 Hà thanh môn đệ bội tư nguyên (Sông trong trò nhớ mãi ơn sâu)
Bên trái là bàn thờ Tứ Phối gồm Mạnh Tử, Nhan Tử, Tăng Tử và Tử Tư là 4 vị thánh hiền. Bên phải là bàn thờ Thập Triết tức 10 vị đứng đầu các Khoa trong số 72 đệ tử của Khổng Tử: Tử Hữu, Tử Lộ, Tử Du, Tử Hạ, Tử Trương, Tử Khiên, Bá Ngưu, Trong Cung, Tử Ngã và Tử Cống.
Cũng ở phía bên trái là một bàn thờ các danh sư Việt Nam như Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quí Đôn, Võ Trường Toản và một số người khác.
Ở phía đối diện, bên phải là bàn thờ của ba bậc tiên hiền của nền giáo dục Gò Công hiện đại. Phía bên phải bàn thờ này là một Bảng Vàng “Giáo Viên Quá Vãng”. Phía tường đối diện và phía bên trái bàn thờ danh sư Việt Nam là hai Bảng Vàng khác tiếp nối. Tổng danh sách hơn 500 thầy cô quá vãng ở Gò Công qua nhiều thời kỳ.
Tầng một của Văn Thánh Miếu là Trụ sở của Hội cựu Giáo chức Gò Công bao gồm một tiền sảnh – hội trường khoảng 150 m2 và khu hậu cần. Hội cựu Giáo chức Gò Công hiện có hơn 600 hội viên gồm Ban chấp hành và 25 tổ.
Ngoài những hoạt động thông thường như đi dự đám tang, đám cưới, sinh nhật , thượng thọ, ngày lễ lớn, Hội có một chương trình hoạt động và trao đổi văn hóa phong phú kể cả với đồng nghiệp nước ngoài. Đặc biệt là Hội có một chương trình du lịch vòng quanh Việt Nam với sự chuẩn bị và tính toán chu đáo, để đảm bảo cho những hội viên có thu nhập thấp cũng có điều kiện tham gia.
Hàng tuần vào ngày thứ hại. tại trụ sở Hội có chương trình biểu diễn và thi thố tay nghề bếp núc trên cơ sở đóng góp tự nguyện. Kèm với một chương trình văn nghệ tự biên tự diễn hoặc có khách mời từ Sài Gòn.
Tôi đã đọc được niềm vui chân thành giản dị và ấm áp trong ánh mắt của những người tham dự cuộc giao lưu. Tôi đọc được truyền thống “tôn sư trọng đạo” trong thái độ đối với bậc tôn trưởng của những thế hệ giáo chức đi sau, của những người đương chức.
Tôi cũng đọc được truyền thống “tiền học lễ hậu học văn” trong cái vòng tay, trong cái cúi đầu của trẻ em Gò Công trước người lớn. Và tất nhiên, trong tà áo dài trắng tinh khôi của nữ sinh Gò Công. Những đứa trẻ và người trẻ mà câu “tiền học lễ hậu học văn” hình như được bú mớm cùng với sữa mẹ.
Tôi thường nói với bạn bè nói chung và các anh các chị giáo chức Gò Công nói riêng là quí vị 3 lần may mắn. Thứ nhất, tỉnh Gò Công (nói riêng là thị xã) là vùng hầu như không có chiến sự trong chiến tranh Việt Nam, không chịu ảnh hưởng của những cuộc đấu tranh chính trị tàn khốc. Thứ hai, Gò Công không bị các làn sóng di cư 1954 và 1975 làm đảo lộn nếp sống.
Người Gò Công hiện nay có thu nhập cao hơn trung bình so với toàn quốc và cả Tiền Giang nên hầu như không phải đi làm thuê các nơi.
Cuối cùng, lãnh đạo của tỉnh Gò Công trước 1975, của thị xã Gò Công sau 1975 và cho đến hiện nay đều là những người có học, hiểu ý nghĩa của truyền thống “tiền học lễ hậu học văn”, “tôn sư trọng đạo”, luôn ủng hộ việc giữ gìn những truyền thống này. Minh chứng là Hội cựu Giáo chức Gò Công được hoạt động ở một địa điểm không thể lý tưởng hơn.
Có lẽ nhờ vậy mà các giá trị cốt lõi của gia đình, của cộng đồng và xã hội ít bị coi nhẹ, bị đứt đoạn, bị đảo lộn và ít bị đối nghịch.
PS. Văn Thánh Miếu Gò Công được ông Lê Quang Liêm một nhân sỹ và Hội Khổng Thánh Tế Tự xây dựng từ năm 1942 trên nền tảng Miếu thờ Võ Tánh cũ ở phố Lưu Thị Dung, Phường 2 thị xã Gò Công. Năm 1970-1971 thời Việt Nam Cộng Hòa, được sự hỗ trợ của chính quyền, các giáo chức Lê Văn Cang và Cung Tất Mai thuộc Hội Tế tự Khổng Tử đã xây dựng Văn Thánh Miếu mới tại địa điểm hiện nay.
Sau 1975, ban đầu khu Văn Thánh Miếu được giao cho Phòng Giáo Dục làm Nhà Trẻ 8/3. Nhà trẻ sử dụng tầng một còn tầng hai để nguyên, nhưng Ban quản lý Nhà Trẻ không chú trọng hương khói.
Từ ngày 19/09/2004, Câu Lạc Bộ Nhà Giáo Hưu Trí được giao tầng hai làm trụ sở, nơi hội họp. Năm sau, Hội Cựu Giáo Chức Thị xã Gò Công truyền nhân của Câu Lạc Bộ Nhà Giáo Hưu Trí được tiếp nhận toàn bộ khu Văn Thánh Miếu Gò Công làm trụ sở như hiện thấy.
Nguồn: Tam Tran fb

Đăng nhận xét

0 Nhận xét